Xử lý băng huyết

By | August 14, 2016

Xử lý băng huyết.Nếu có dấu hiệu của nhiễm khuẩn (sốt, dịch âm đạo hôi), sử dụng kháng sinh như trong trường hợp viêm tử cung.
Không hình thành cục máu đông sau 7 phút hoặc máu cục mềm dễ vỡ thì phải nghĩ tới rối loạn đông máu (trang 142).
Cho một liều duy nhất kháng sinh dự phòng sau khi tử cung được đẩy lại bình thường (trang 61):
Ampicillin tiêm tĩnh mạch 2 mg cộng với metronidazol tiêm tĩnh mạch 500 mg;
Hoặc tiêm tĩnh mạch cefazolin 1g cộng với metronidazol 500mg;
Nếu có dấu hiệu của nhiễm khuẩn (sốt, dịch âm đạo hôi), sử dụng kháng sinh như một trường hợp viêm tử cung (trang 252).
Nếu nghi ngờ có hoại tử, thực hiện cắt tử cung đường âm đạo. Có thể chuyển đến một trung tâm chăm sóc cấp ba.
Băng huyết sau sinh muộn (thứ phát).
Nếu thiếu máu nặng (huyết sắc tố ít hơn 7g /di hoặc dung tích hồng cầu thấp hơn 20%), chuẩn bị truyền máu (trang 46) và cho uống sắt và acid folic (trang 150).
Nếu có dấu hiệu của nhiễm khuẩn (sốt, dịch âm đạo hôi), sử dụng kháng sinh như trong trường hợp viêm tử cung (trang 252).
BHSS kéo dài hoặc muộn có thể là dấu hiệu của viêm tử cung.
Cho thuốc co tử cung (Bảng S-8, trang 286).
Nếu cổ tử cung mở, thăm dò lòng tử cung bằng tay lấy hết máu cục và những mảnh rau. Kỹ thuật tương tự như lấy rau trong rau mắc kẹt (trang 395).
Nếu cổ tử cung không mở, nạo buồng tử cung để lấy ra mảnh rau vụn (trang 379).
Nếu vẫn xuất huyết, đôi khi cần thắt động mạch tử cung và động mạch tử cung buồng trứng (trang 421) hoặc cắt tử cung (trang 426).
Thực hiện xét nghiệm mô học của mô nạo hoặc bệnh phẩm cắt tử cung, nếu có thể, để loại trừ u nguyên bào nuôi.
Nhức đầu, mờ mắt, co giật, mất ý thức, tăng huyết áp.
Đặt vấn đề.
Phụ nữ mang thai hay phụ nữ mới sinh than phiền về chứng nhức đầu dữ dội hay mờ mắt.
Phụ nữ mang thai hay phụ nữ mới sinh bị hôn mê hoặc bị co giật (trúng phong).
Phụ nữ mang thai có huyết áp cao.
Xử trí chung.
Nếu một sản phụ bị bất tỉnh hay co giật. Hãy kêu cứu. Huy động khẩn cấp tất cả các nhân viên có thể có mặt.
Đánh giá nhanh chóng toàn trạng của bệnh nhân gồm: dấu hiệu sinh tồn (mạch, huyết áp, nhịp thở) đồng thời khai thác bệnh sử hiện tại và các bệnh đã mắc từ bệnh nhân hay những người nhà.
Nếu bệnh nhân không thở hay thở nông:
Kiểm soát đường thở, đặt nội khí quản nếu cần.
Nếu bệnh nhân không thử, hô hấp viện trợ bằng bóng Ambu và mặt nạ hay cho oxy từ 4-6 lít/phút qua ống nội khí quản.
Nếu bệnh nhân còn thở, cho oxy từ 4-6 lít/phút qua mặt nạ hay ống thông mũi.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *